Home / Giáo dục / Địa phương tự chọn sách giáo khoa, có lo ngại lợi ích nhóm?

Địa phương tự chọn sách giáo khoa, có lo ngại lợi ích nhóm?

Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo không can thiệp mà để các địa phương tự quyết phương án lựa chọn sách giáo khoa cho các cấp học đang khiến dư luận không khỏi lo ngại về việc liệu có xảy ra lợi ích nhóm, thiếu minh bạch?

Giữa tháng 6/2019, Luật Giáo dục (sửa đổi) được Quốc hội thông qua chính thức chốt việc thực hiện một chương trình giáo dục phổ thông thống nhất trên cả nước với nhiều sách giáo khoa (SGK). Quy định này cũng đã cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương khóa XII về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT; Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội về đổi mới chương trình, SGK.

Theo đó, chương trình giáo dục phổ thông quy định yêu cầu về phẩm chất, năng lực của học sinh cần đạt được sau mỗi cấp học, nội dung giáo dục bắt buộc đối với tất cả học sinh trên phạm vi cả nước. Dựa trên chương trình thống nhất này, mỗi môn học sẽ có một hoặc một số SGK. Luật quy định việc biên soạn SGK theo hướng xã hội hóa, việc xuất bản SGK thực hiện theo quy định của pháp luật. SGK do các tổ chức, cá nhân biên soạn phải qua thẩm định mới được phát hành.

SGK không còn là pháp lệnh

GS.TS Phạm Hồng Tung, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội) cho rằng, lâu nay Việt Nam vẫn quen với việc dùng một chương trình và chỉ có một bộ sách duy nhất. Thậm chí có thể không chương trình nhưng nhất định phải có SGK. “Trước nay, SGK là học liệu có tính pháp lệnh. Thầy phải dạy theo SGK, trò cũng phải coi SGK là chuẩn mực, nếu không dạy và học hết SGK thì bị coi là vi phạm. Đến nay SGK không còn là học liệu bắt buộc duy nhất, có tính pháp lệnh. Chương trình giáo dục phổ thông và chương trình các môn học mới khiến việc học và dạy có những thay đổi lớn.

GS.TS Tung cũng cho rằng một chương trình nhiều SGK là xu hướng chung của thế giới. Con người đang sống trong xã hội đa dạng thông tin, do đó học sinh cũng cần được làm quen và hướng dẫn năng lực tìm kiếm thông tin ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

Chuyên gia giáo dục Nguyễn Quốc Vương cho biết, xét về chiến lược, cá nhân ông tán thành hướng đi và quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Cơ chế một bộ sách kéo dài gây ra rất nhiều hệ lụy trong đó tạo nên không biết bao thế hệ giáo viên tư duy mình chỉ là người thực thi, là “thợ dạy”, là người truyền đạt lại nội dung SGK trong khi SGK được coi như là chân lý bất biến.

“Việc thực hiện một chương trình-nhiều sách giáo khoa sẽ tạo ra cơ hội để giáo viên tái định vị lại vai trò của bản thân và phát triển các thực tiễn giáo dục-thứ vốn hầu như không có ở Việt Nam vì 1000 giáo viên ở 1000 địa phương, 1000 ngôi trường khác nhau đều dạy hệt nhau do đều truyền đạt nội dung của một bộ sách viết cho cả nước”, ông Vương nói.

Lo ngại chọn sách qua đường…“ngoại giao hành lang”

Thực tế, đây không phải lần đầu Việt Nam áp dụng một chương trình, nhiều SGK trong nhà trường. Trước năm 2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã từng sử dụng hai bộ SGK khác nhau, sau đó chỉnh lý về cùng một bộ SGK thống nhất.

Trong bối cảnh mới hiện nay, việc trở lại sử dụng nhiều SGK được kỳ vọng sẽ mở ra những hướng đi mới cho ngành giáo dục, phát triển được kỹ năng, năng lực người học. Thế nhưng, đến nay dư luận vẫn không khỏi băn khoăn trước những thông tin về vấn đề ai sẽ được quyền lựa chọn SGK, liệu có hay không vấn đề lợi ích nhóm trong quá trình chọn sách?

Theo thông tin từ Bộ GD-ĐT, trong năm học 2020-2021, việc lựa chọn SGK sẽ do các trường tự quyết, nhưng từ những năm học sau, việc này sẽ do UBND các tỉnh đảm nhiệm.

Nói về việc lựa chọn sách giáo khoa, ông Nguyễn Quốc Vương cho hay: “Nếu soi xét kĩ thì quy trình, quy chế thực hiện cơ chế này ở Việt Nam rất nhiều sơ sở. Chẳng hạn lướt qua tôi cũng thấy nhiều người đang là công chức của Bộ Giáo dục, hay người tham gia biên soạn chương trình lại cũng là tác giả sách. Như thế sẽ tạo ra nhiều kẽ hở và bất lợi cho sự phát triển lành mạnh. Nếu thực sự muốn chuyên nghiệp hóa, lành mạnh hóa thì phải tách bạch bộ phận làm chương trình, đội ngũ tác giả sách giáo khoa, hội đồng thẩm định. Ba bộ phận này là riêng biệt, kiểm soát lẫn nhau và không ai được làm công việc trùng nhau hay ba trong một. Tiếp đến, sau thẩm định sẽ là tuyển chọn. Tuyển chọn công tâm sẽ tạo ra động lực thúc đẩy SGK ngày một tốt lên và ngược lại. Các Nhà xuất bản đương nhiên sẽ tìm kiếm lợi nhuận vì đó là lẽ hiển nhiên. Vấn đề là nếu cơ chế tốt thì sẽ hướng họ cạnh tranh lành mạnh như đầu tư cho tác giả, in ấn chất lượng cao, tư vấn hỗ trợ tập huấn giáo viên và ngược lại”.

Ông Vương cho rằng, để tránh tiêu cực, thì nên giao quyền chọn SGK cho Hiệu trưởng các trường. Hiệu trưởng và hội đồng tư vấn của trường sẽ đảm nhận việc chọn sách và hiệu trưởng, chủ tịch hội đồng sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, công luận.

Các trường muốn chọn được sách tốt nên có hội đồng tư vấn có sự tham gia của cả phụ huynh, nhân sĩ địa phương, học giả. Đồng thời cần có khảo sát, điều tra từ phía học sinh để tham khảo. Cần có quy chế cụ thể cho quy trình lựa chọn sách giáo khoa.

“Một chuyện rất dễ xảy ra là các công ty sách có thể thông qua đường “ngoại giao hành lang” để tiếp cận hiệu trưởng, tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh. Để phòng tránh thì cần có quy chế giám sát việc tuyển chọn minh bạch, công khai, quyết định cuối cùng thuộc về lá phiếu dân chủ của hội đồng thay vì một người độc đoán ra quyết định. Hội đồng đó nên bao gồm các thầy cô có chuyên môn, chuyên gia bên ngoài, phụ huynh. Ở Nhật khi thực hiện cơ chế này đã từng xảy ra vụ án tham nhũng-hối lộ lớn dưới thời Minh Trị khiến vua Minh Trị phải trực tiếp chỉ đạo phá án, bắt hàng trăm người trong đó có cả Thứ trưởng, giáo sư, hiệu trưởng đại học, hiệu trưởng các trường phổ thông. Là nước đi sau, ta nên chú ý và phòng chống điều này ngay từ đầu bằng cơ chế tốt”, ông Vương khuyến cáo.

PGS.TS Trần Xuân Nhĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng, nếu cho phép 63 tỉnh, thành phố thành lập hội đồng riêng thì khó tránh khỏi việc nhiều đơn vị xuất bản sách “chạy ngoài, đi cửa sau”.

Ở các nước thực hiện một chương trình, nhiều SGK giáo viên là người được lựa chọn những nội dung hay ở từng sách, tự thiết kế thành bài giảng của mình. Tuy nhiên, để giáo viên Việt Nam quen và làm được điều này cần có lộ trình, thời gian thực nghiệm. “Nếu được thì việc lựa chọn SGK nên giao hẳn cho các trường hoặc hội đồng liên trường hay cụm trường của các địa phương. Tránh việc những hội đồng lập ra là những người trong chính quyền, làm công tác quản lý, không đứng lớp, hoặc chỉ mời một vài giáo viên. Có nhiều SGK, do đó giáo viên có thể lựa chọn những cái hay của sách này kết hợp với những nội dung hay trong các cuốn sách khác, không nhất thiết chỉ dùng duy nhất một bộ sách để giảng dạy”, ông Nhĩ nói.

Theo PGS.TS Trần Xuân Nhĩ, nếu như các địa phương chỉ chọn một bộ sách duy nhất để dạy, cũng chưa phát huy hết được ý nghĩa của chủ trương một chương trình nhiều SGK. Bởi thực tế nhiều tỉnh có sự khác biệt rõ rệt về điều kiện địa lý, kinh tế xã hội giữa khu vực thành phố và các huyện vùng sâu vùng xa. Do đó nếu để tỉnh chọn một bộ sách dùng cho toàn tỉnh cũng sẽ không phù hợp.

Có cùng những lo ngại về tính minh bạch trong quá trình lựa chọn SGK, GS Phạm Tất Dong, Phó Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam cho rằng cần công khai việc lựa chọn sách. Cụ thể các địa phương cần công khai giải thích với phụ huynh, học sinh lý do lựa chọn từng sách. Về hội đồng chọn sách, GS Dong cho rằng cần có sự tham gia của các nhà khoa học, chuyên gia, các giáo viên giỏi, đã nắm chắc chương trình, đặc điểm, tâm sinh lý trẻ em, các quy tắc sư phạm…

Các nước phát triển dạy một chương trình nhiều SGK thế nào?

Chuyên gia giáo dục Nguyễn Quốc Vương, người có nhiều năm nghiên cứu về giáo dục Nhật Bản và Việt Nam cho hay, tại đất nước “Mặt Trời mọc” này, Bộ Giáo dục ban hành chương trình phổ thông tổng thể và các môn 10 năm một lần. Chương trình rất vắn tắt và có tính mở lớn so với Việt Nam. Từng địa phương, từng trường căn cứ trên đó xây dựng nên chương trình của mình sao cho hợp với chương trình của Bộ và có đặc sắc riêng. Một số môn học hay nội dung học tập bộ gần như trao quyền toàn bộ cho trường – giáo viên.

SGK ở Nhật do nhiều công ty xuất bản tư nhân biên soạn và đệ trình lên hội đồng của Bộ xét duyệt. Định kỳ Bộ sẽ thông báo các bộ sách đạt chuẩn để các trường và địa phương lựa chọn.

Tại đây, Nhà nước bao cấp giáo dục nghĩa vụ 9 năm do đó, trường, địa phương nào chọn sách cho bậc tiểu học và THCS xong thì báo cáo để Nhà nước mua phát cho học sinh.

“Nhìn vào thực tiễn thì có thể hiểu giáo viên ở Nhật sẽ phải tự soạn nên nội dung giáo dục căn cứ vào chương trình của Bộ, địa phương, nhà trường, các bộ SGK… Nghĩa là giáo viên là người quyết định cuối cùng sẽ dạy gì, dạy như thế nào. Điều đó tạo ra các thực tiễn giáo dục ở hiện trường.

Những năm gần đây, ảnh hưởng từ chương trình của Bộ Giáo dục Nhật Bản có vẻ mạnh lên nhưng các giáo viên Nhật cũng nỗ lực phát triển của các thực tiễn giáo dục của mình để đảm bảo tính phong phú, đa dạng, nhân văn của giáo dục hiện đại”, ông Vương cho biết.

GS Phạm Hồng Tung cho biết, đã từng có một chương trình nghiên cứu quốc tế về chương trình SGK ở Đông Nam Á. Chương trình có nhiều SGK đã được thực hiện đầu tiên ở Philippines.

“Khi họ mới triển khai cũng lúng túng như chúng ta bây giờ. Thời điểm đó, Hội đồng thẩm định của họ thông qua các bộ SGK không ngang bằng nhau về mức độ tri thức và kỹ năng, đồng thời quan điểm rất khác nhau. Thời điểm đầu, xã hội Philippines đã hỗn loạn vì SGK. Sau một số năm đầu, Philippines đã xiết chặt lại SGK và đến bây giờ SGK của họ rất tốt.

Ở nhiều nước châu Âu, như tại Đức, các tiểu bang có Bộ Giáo dục riêng và tự quyết định biên soạn, thậm chí là có chương trình SGK riêng. Sách của tiểu bang này sẽ không thể dùng được cho các tiểu bang khác. Ở châu Âu, họ đã triển khai SGK như vậy từ rất lâu.

Ở các nước Bắc Âu, chương trình có nhiều bộ sách đã có từ rất lâu. Thậm chí, giáo viên và học sinh được quyền quyết định bài học này sẽ dùng của sách này, bài học khác lại dùng của sách khác. Họ đã được tự do chọn lựa, nhưng tự do nào cũng có điều kiện.

Việt Nam cũng cần đi theo hướng đó. Sau khi có chương trình giáo dục quốc gia, chương trình phổ thông tổng thể và chương trình môn học, thì các nhà trường phải có chương trình nhà trường. Hiện nay, chúng tôi biết ở một số trường tư ở Việt Nam, căn cứ trên chương trình của Bộ đã ban hành, họ tổ chức xây dựng chương trình nhà trường và đây là điều rất tốt. Chương trình nhà trường sẽ vận dụng tối đa chương trình quốc gia, nhưng có sáng tạo riêng và có thể bổ sung thêm những bản sắc riêng cho học sinh bằng phát huy năng lực và phẩm chất. Đồng thời chương trình nhà trường có thể giảm tải bớt những phần không phù hợp.

Như vậy, học sinh của các trường đó đều có bản sắc riêng. GS Phạm Hồng Tung cho rằng, xưa nay Việt Nam vẫn quen với “tư duy đồng phục”. Ưu điểm là sự đồng nhất, nhưng sẽ không phù hợp với xã hội đa lựa chọn, không phù hợp với xã hội bùng nổ công nghệ và thông tin. Năng lực con người cần đa dạng để thích ứng với yêu cầu của cuộc sống ngày càng phát triển, chứ không phải cần những con người giống nhau.

Nguồn: vov.vn