Home / VH-NT / Điện ảnh / Đừng đánh mất “ngân hàng” giá trị cần được khai thác chủ động và chuyên nghiệp từ kho lưu trữ phim

Đừng đánh mất “ngân hàng” giá trị cần được khai thác chủ động và chuyên nghiệp từ kho lưu trữ phim

Sáng 25/11/2025; trong khuôn khổ LHP lần thứ 24, Viện Phim Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học Phát huy giá trị tư liệu hình ảnh động lưu trữ trong tình hình hiện nay, do ông Phạm Cao Thái – Vụ trưởng Vụ Pháp chế – Bộ VH-TT&DL và ThS. Lê Thị Hà – Viện trưởng Viện Phim Việt Nam, TS. Nguyễn Thế Hùng – Nguyên Vụ trưởng Vụ KH&CN (BVHTTDL), điều hành hội thảo.

Các bài tham luận tại hội thảo đề cập đến các nội dung như: Khái quát về công tác khai thác, phát huy giá trị tư liệu hình ảnh động lưu trữ tại Viện Phim Việt Nam. Giá trị của di sản Điện ảnh Cách mạng Việt Nam – Thực tiễn khai thác, phổ biến – Định hướng phát huy giá trị trong phát triển ngành công nghiệp điện ảnh. Bảo tồn và phát huy giá trị tư liệu phim. Đánh thức ký ức điện ảnh Việt Nam: giải pháp phát huy giá trị phím, tư liệu hình ảnh động trong kỳ nguyên số. Bản quyền trong công tác khai thác tác phẩm điện ảnh và tư liệu hình ảnh động lưu trữ. Vấn đề bản quyền trong công tác khai thác phim và tư liệu hình ảnh động. Hoàn thiện khung pháp lý trong công tác phát huy giá trị tư liệu hình ảnh động lưu trữ.

Phát biểu giới thiệu hội thảo, bà. Lê Thị Hà – Viện trưởng Viện Phim cho biết: theo Luật Điện ảnh hiện nay, tất cà các loại phim sẽ được lưu trữ tại Viện Phim, với 02 mảng: thứ nhất là phim sản xuất đặt hàng thì khi lưu trữ sẽ được mở khóa. Loại phim thứ hai; do các NSX, các doanh nghiệp không sử dụng ngân sách nhà nước, khi nộp lưu chiểu thì Viện Phim vẫn thực hiện việc lưu trữ. Điều quan tâm là khi lưu trữ rồi, làm sao phát huy giá trị văn hóa của các tác phẩm điện ảnh. Vấn đề nữa là: khi tập trung vào công tác lưu trữ, đặc biệt đối với những tác phẩm điện ảnh cách mạng Việt Nam từ khi sản xuất bộ phim đầu tiên. Khi thực hiện lưu trữ những thước phim  “xưa”, chúng  tôi gặp một số vấn đề, thế giới đặt ra: cấp miển phí hay mua bản quyền, việc thu tiền bản quyền này sẽ thu trên cơ sở nào? Thực hiện bản quyền ra làm sao? Tiền thu được được sử dụng như thế nào? Với thời kỳ chuyển đổi số, thì đối tượng tác giả, khán giả trẻ…sẽ sử dụng “kho lưu trữ phim” như thế nào? Chúng ta chưa có cơ chế thu phí và sử dụng phí cho vấn đề lưu trữ phim trong kho lưu trữ, đây cũng là vấn đề đang trăn trở nhất của Viện Phim Việt Nam.

Nói về “Bảo tồn và phát huy giá trị phim tư liệu”, TS.Nguyễn Thế Hùng – Nguyên Vụ trưởng Vụ KH&CN – Bộ VH-TT&DL cho rằng: hãy làm cho mỗi hình ảnh, mỗi thước phim của quá khứ vẫn đã sống động sẽ trở nên sống động hơn nữa. Khai thác hay chưa khai thác được; hây đồn công sức để bảo quản, gìn giữ, không để hình ảnh nào, thước phim nào bị hủy hoại, bị mất mát. Tư liệu phim nhìn từ nghệ thuật hay tư liệu lịch sử, nó tương tự như hiện vật trong các bảo tàng. Chúng ta đã, đang và làm tốt việc hoàn thiện lý lịch cho tác phẩm nhưng chúng ta có biết có bao nhiêu người chưa được xem lại phim: Vĩ Tiến 17 ngày và đêm, Đường về quê mẹ, Em bé Hà Nội, Cánh đồng hoang, Mối tình đầu, Ván bài lật ngửa, Bao giờ cho đến tháng mười…và còn nhiều bị bộ phim khác của điện ảnh Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua có sức hấp dẫn với biết bao công chúng trong và ngoài nước nhưng có điều kiện “tự xem” và trả bản quyền. Thế hệ trẻ hôm nay không hề thờ ơ với điện; minh chứng là một số phim về đề tài chiến tranh trong vài năm gần đây đã thu hút được đông đảo khán giả, chúng ta cần những cách tiếp cận mới, dày công để thu hút sự quan tâm của công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ. Việc chuẩn bị nội dung để khai thác tốt khối tư liệu phim đang lưu giữ ở Viện phim Việt Nam và các hãng phim không hề đơn giản, cần một nguồn lực không nhỏ cho một khối lượng công việc khổng lồ. Hy vọng Viện phim Việt Nam và một số đơn vị hoạt động trong lĩnh vực điện ảnh đang âm thầm chuẩn bị sẽ vượt khó, tiếp tục khai thác tốt khối tư liệu, phim tài sản vô cùng quý báu, góp phần thực hiện chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và sứ mệnh xây dựng sự phồn vinh, thịnh vượng bước tới kỷ nguyên vươn mình của đất nước.

Viện Phim Việt Nam hiện lưu trữ hơn 20.000 tên phim với khoảng 80.000 cuốn phim 35mm và 16mm và hàng chục ngàn băng video các loại. Phần lớn là các tác phẩm điện ảnh Việt Nam kinh điển và kho tư liệu vô giá về quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bà Ngô Phương Lan – Chủ tịch VFDA, giới thiệu cuốn sách viết bằng 03 thứ tiếng Việt – Anh – Pháp mang tên Nửa thế kỷ phim Việt Namvề chiến tranhdo VFDA phối hợp với Viện Phim Việt Nam thực hiện….cho rằng: phim chiến tranh; “Di sản điện ảnh là đất vàng, thậm chí đất kim cương, không thể nào lặp lại được. Chúng ta sẽ phát huy giá trị và có thể tái sinh nó hay không?”. Phim Việt Nam, có rất nhiều nguồn, có phim phải mua bản quyền không hề rẻ. Có những bản phim Viện Phim Việt Nam có nhưng không đầy đủ. Có thời gian phim chiến tranh như “ngủ quên” và đôi khi bị khán giả quay lưng. Chúng ta cũng nên khuyến khích làm lại các bộ phim kinh điển, chuyển thể hoặc làm phần tiếp nối, các nước làm dạng này rất nhiều. Nhân đà thắng lợi kỳ tích của Mưa đỏ, chúng ta nên phát triển và đẩy mạnh dòng phim lịch sử cách mạng, thời hậu chiến, thời đổi mới. Từ công nghệ thực tế ảo, có thể làm phim tương tác.

Theo Luật sư Lê quang vinh cho biết: thách thức lớn nhất nằm ở sự khác biệt cơ bản về hệ thống Pháp luật sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam – theo hệ thống Luật dân sự và Công ước Berne. Hoa Kỳ theo hệ thống Luật thông Luật, dù cũng là thành viên Công ước berne nhưng có những đặc thù riêng. Sự khác biệt này thể hiện rõ nét nhất qua cách hai bên, nhìn nhận và bảo hộ quyền nhân thân – Moral Rights và quyền tài sản – Economic Rights. Để thực hiện hóa tiềm năng này; cần có một chiến lược rõ ràng và sự phối hợp mạnh mẽ; thống nhất quan điểm và chính sách, nhìn nhận di sản điện ảnh không chỉ là bảo tàng mà còn là một “ngân hàng” giá trị cần được khai thác chủ động và chuyên nghiệp, hoàn thiện khung pháp lý về sở hữu trí tuệ. Đặc biệt là việc xác định và quản lý quyền sở hữu trí tuệ đối với các tác phẩm thuộc sở hữu nhà nước một cách minh bạch, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Cần có cơ chế ủy quyền rõ ràng cho Viện phim để chủ động đàm phán cấp phép đầu tư vào hạ tầng và nhân lực khẩn trương phục chế số hóa phim đạt chuẩn quốc tế, 4k, lồng tiếng, phụ đề, chất lượng cao. Đào tạo đội ngũ chuyên gia về cấp phép, phân phối kỹ thuật số và marketing quốc tế. Hợp tác với các chuyên gia pháp lý và kinh doanh để đàm phán các hợp đồng, bản quyền phức tạp với các tập đoàn giải trí toàn cầu, đảm bảo tối đa quyền lợi và doanh thu cho nhà nước, xây dựng chiến lược marketing toàn cầu, không chỉ đơn thuần đặt phim lên nền tảng mà cần có chiến lược quảng bá chủ động, để thu hút khán giả quốc tế, tăng khả năng sinh lời.

Không phải tới thời điểm này; nhà sản xuất trong nước hay quốc tế, người xem phim, nhà nghiên cứu…mới cần những thước phim tư liệu để phục vụ các nhu cầu, mà họ đã cần lâu rồi nhưng đôi khi không biết “mua bản quyền” ở đâu, lấy tư liệu không rõ nguồn gốc thì bị phạt. Đó chính là điều mà các hãng phim nhà nước và tư nhân đã đánh mất “ngân hàng giá trị”, của chúng ta quá lâu. Làm mất đi nguồn cảm hứng của nhà làm phim thế hệ mới, nhà nghiên cứu…để hiểu về thế hệ trước làm phim như thế nào mà mỗi khi khán giả nói đến, họ đều nhớ nhất ở một đoạn nào đó trong phim, vì nó đánh dấu giá trị lịch sử của cả một dân tộc từ Bắc chí Nam. Ví dụ: khi nói về Em bé Hà Nội thì có người nhớ đến đoạn Em bé Hà Nội ngồi trên ca bin xe tài xế. Cù Chính Lan – Người chiến sĩ trẻ, ở cảnh  anh chạy theo xe tăng chỉ để thả trái lựu đạn vào xe và ở TP.HCM có cả tên đường “Cù Chính Lan”. Hay bộ phim Chim vành khuyên, thì nhớ đến cảnh cô bé nhảy dây đếm…làm mật khẩu để các anh du kích không vào làng. Về nơi gió cát thì nhớ đến cảnh người phụ nữ mặc áo dài đen đi trên cát, chạy theo hoa dầu lăn trên cát…Ngọn lửa Krong Nông thì nhớ vòng lửa…Thật ra phim Việt Nam rất hay, chỉ vì chúng ta không biết thuyết minh về câu chuyện hay mà ngôn ngữ điện ảnh muốn nói trong phim. Vì nó đậm chất “Việt Nam” – con người Việt Nam, không là con người “quốc tế” và chính nó làm cho người khác thích phim Việt Nam.

Hương Cau